Hoa Thủy Hương

11:45 21/02/2018 | evan.vn

Tổng số bài chia sẽ : 160

Tìm hiểu Chùa Mậu Xương (Tuyết Phong Tự): nét riêng trong lịch sử, văn hóa, phong tục

(Du lịch tâm linh)

Chùa Mậu Xương được coi là di tích lịch sử văn hóa ở xứ Thanh, đã được nhân dân địa phương và khách thập phương đóng góp xây dựng nhiều lần, được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh ngày 25 tháng 1 năm 1998. Cho đến ngày nay, bà con dân làng và du khách thập phương có duyên vẫn tìm về, đồng thời qua nhiều lần được tôn tạo, phần nào khẳng định giá trị tinh thần tín ngưỡng Phật đạo, quý trọng giá trị tâm linh, phong tục của nhân dân ta.

Ngược dòng lịch sử và một số tư liệu lưu truyền dân gian

Chùa Mậu Xương xã Quảng Lưu, nằm trên khu đất hình thang “Đầu rồng” có diện tích tự nhiên là 12.500m2. Phía Bắc giáp đường làng, phía Đông Tây nối từ đường 4A, qua 4B, qua 4C ra tận bờ biển xã Quảng Lưu, phía nam giáp với cánh đồng, phía Đông giáp với đường 4B, phía Tây giáp với đường 4A. đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Là ngôi chùa thờ Phật, gắn liền với sự giáng sinh của Phật Tổ và Liệt Thánh nội đạo.

 Chùa hình thành từ thời Trần, thuở đầu có tên là Tuyết Phong, đến thời Lê, Chùa có tên là Tuyết Sơn Phong. Sau này, có tên Yên Đông, đến năm 1830 làng Yên Đông lại đổi tên là làng Mậu Xương.

Nói về phát tích của ngôi chùa có nhiều tư liệu, trong đó có tích kể từ giữa thế kỷ thứ XIV, năm 1368 năm Mậu Thân, có đôi vợ chồng họ Trần thời nhà Minh lưu cư sang Việt Nam trú tại Thanh Hoa tỉnh, Ma Xương huyện, Yên Hương xã, Làng Nguốn (tức là làng Mậu Xương, xã Quảng Lưu). Mùa thu ngày 1 tháng 8 năm 1390, vợ chồng đào được 2 bình vàng. Đến tháng 2 năm 1420 (Nhâm Dần) hoàn trả lại cho khách Tàu (vì họ đến tìm của theo gia phả).       

 Đến tháng 3 năm 1432 năm Nhâm Tý, có thầy Cao Tăng nước Tầu đến tìm ông bà để báo ơn nhưng ông bà không còn, Cao Tăng bảo con trai của ông bà đem hài cốt Tôn ông, Lệnh bà cất tại huyệt này, lập điện thờ tất có đại cát. Từ đó là sơ khai Điện thờ “Tuyết phong” nhân dân trong vùng thường đến cầu nguyện và hương đăng, được tôn tạo xây dựng thành Tuyết Sơn Phong tự. Hậu thế họ Trần tại làng Nguốn Thôn - Yên Hương xã sinh ra đông đúc, có nhiều người làm quan tại triều Lê.

 

Ngoài ra, hiện nay còn có bia tại chùa ghi lại tích chuyện, năm 1578, ông Trần Ngọc Thích, là Trần Tướng Công, Quỳnh Lâm Hầu giữ chức Đô uý điện tiền chỉ huy sứ thời Lê. Tuổi đã cao, con cái chưa có, ông cáo quan về quê nhà tĩnh dưỡng. Về nhà, ông trai giới, tắm gội, đến chùa Tuyết Phong - Nguốn Thôn cầu nguyện mong có người nối nghiệp tông đường. Một đêm nằm mộng ông thấy có hai lực sỹ đưa đến Điện Lưu Ly, trên điện có một vị quan to nói với ông: Ông cha nhà ngươi trước đây có nhiều quả phúc, giờ đây nhà ngươi lại có già thiện căn, nên sớ cầu tự của nhà ngươi đã được ưng chuẩn. Lệnh cho tôn thần chùa này, tiền thân là Vua nước Tây Vực, hiện là Na La Tri Phật giáng sinh, lại cho Nam Hải Quán Thế âm Bồ tát làm lệnh phối. Nghe xong hai lực sỹ phò tá đưa ông ra. Khi tỉnh dậy ông bái tạ ra về. Năm ấy vợ ông là bà Hiệu Từ Ái có giáng ứng đầu thai, đến năm Quý Mùi 1583. Tháng 6 ngày 11 giờ Dần bà sinh ra một nam nhi, dáng mạo khác thường, mặt như trăng rằm, tính nết hiền hòa, thông sáng hơn người, nên đặt tên là Trần Ngọc Lành, đến năm 12 tuổi, văn thao, võ lược, không có gì là không tinh thông. Khi lên Thăng Long đổi tên là Trần Ngọc Trân, 16 tuổi vào hạt, 18 tuổi vào Quốc Tử Giám. Thời kỳ này nạn binh lửa xảy ra vô kể. Nhân cha ở quê bị bệnh, ngài không ra làm quan, trở về nhà chăm sóc cha già ốm nặng. Một hôm ngài vào chùa Tuyết Phong cầu nguyện, khi trở ra gặp một vị Tôn sư

Ngài trình bày bệnh của cha với Tôn sư và Tôn sư cùng Ngài vào chùa Tuyết Sơn cầu nguyện. Quả nhiên bệnh đó khỏi hẳn. Trần Ngọc Trân vội đến chùa lấy 7 cây hương và lập 7 lô nhang, lập bàn thờ trong điện và tôn tạo lại chùa rộng rãi, vững chắc. Từ đó Chùa thờ Thượng Không Phật và Chư vị tôn linh, tên Chùa là Tuyết Sơn Phong.

Năm Đinh Mùi (1607), Trần Tướng Công (Quỳnh Lâm Hầu) là cha của ngài đã quy tiên, bà Hiệu Từ Ái cũng quy tiên, Trần Ngọc Trân quy táng ông bà và đưa linh vị vào chùa Tuyết Sơn Phong thờ phụng.

Mùa thu năm Bính Dần 1626, Ngài bỗng thấy trời mây đen tối, Ngài nhìn lên điện thờ đã thấy Tôn sư ngồi uy nghiêm mà nói rằng:Ta với con vốn có tiền nhân, nay đến đây báo đạo vài lời tiễn biệt.Ngài vội khấu đầu nói: Từ khi được 7 nén hương để lại phụng thờ, một lòng kính mộ, há dám hẹn lại, nay thấy Tôn sư xin xả thân đầu giáo, nhưng chưa cởi bỏ tấm thân phàm tục, phỏng biết có được không ?

Tôn sư nói: “Người Nam châu tính hay dâm đãng, khiến cho minh tuy phải bày ra địa ngục, cần phải cứu vớt lại, ta muốn giáo hóa con, không biết có quả quyết hay thanh tịnh được không? Ngài lạy Tôn sư và nói: Thiên đường địa ngục xin Tôn sư chỉ cho tường tận.Tôn Sư giảng đạo và chỉ cho Ngài rằng: Tiền thân con là Quốc Vương Tây Vực, có lòng nhân ái, rất sùng đạo Phật, sau khi hóa thân đã được thụ sắc Na - La - Tri - Phật. Sau khi đó được bổ nhận về chùa Tuyết Sơn Phong Nam Việt, quản trị sổ sách thiện ác, nhân dân các châu, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, nhân nhà Trần có âm đức và nơi đây Địa Linh vượng khí, Phong Thủy đại cát, nên có ngày nay sinh nhân quả, ta không tiếc gì mà không trở lại, giao cho bí pháp. Từ đó đêm đêm, Tôn sư giáng hạ về chùa truyền đạo pháp cho Trần Ngọc Trân.

Năm Mậu Thìn (1628), Ngài tham gia đào đắp đường huyện, bắt gặp một bản đồng, trong có 40 ấn đồng, Ngài mang về Chùa, hương đăng cầu nguyện. Hai tay vỗ vào nhau thành ấn, mở tay ra thành quyết, dậm chân luyện pháp cả vùng phong vũ âm vang. Từ đó Ngài đắc đạo “ Lục trí thần thông” có tài “ hô phong hoán vũ”, Ngài là Đức Phật Tổ - Thượng Sư Phật Bảo - Tự Pháp Lượng. Từ đây chùa Tuyết Sơn Phong còn có tên là chùa Yên Đông vì tên làng Nguốn đã đổi là làng Yên Đông.

 Ngài giáng hạ giúp đời, giờ Dần ngày 11 tháng 6 năm 1583 (năm Quý Mùi). Ngài quy tiên giờ Dậu ngày 28 tháng 01 năm 1643 (Quý Mùi), thọ 60 tuổi. Từ đó nhân dân trong vùng hàng năm làm cỗ đến Chùa để lễ kỷ niệm ngày mất của Phật Tổ là ngày 28/1 hàng năm. Phật mẫu là bà Hiệu Từ Kế mất ngày 10/8 (không rõ năm)

Các vị tứ Thánh cùng với các đệ tử Tự Pháp Mô, Tự Pháp Cống sửa sang, xây dựng lại chùa đã có quy mô to lớn từ thời Lê. Lập tĩnh đường Từ Minh ở Hoàng Long, truyền đạo pháp cho môn sinh có lúc tới hàng vạn người. Về sau được vua Lê Thần Tông phong sắc Nội Đạo Tràng và Thiên Tâm Chính Pháp.

Chùa Mậu Xương ngày nay:  góc nhìn phong tục, lễ hội

Hàng năm, nhân dân làng Mậu Xương có các ngày hội, ngày lễ như ngày 14, 15 tháng Giêng. Ngày 28/1, ngày 23/11 và các ngày giỗ kỵ liệt thánh. Từ đó, khách gần xa đến Chùa lễ Phật ngày càng đông, không ngày nào là không có khách.   

   

Ở thời Lê, Chùa có quy hoạch mặt bằng hình chữ Tam (≡). Ngày nay do nhu cầu của nhân dân và số lượng khách đến chùa ngày càng nhiều, ngôi chùa đã được thiết kế quy hoạch di tích. Trong đó, cung Thánh Mẫu bên tả thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh và Liệt vị Phật Mẫu nhị vị Tiên Cô, cung Thờ Thủy Tổ bên hữu thờ Thủy tổ và liệt vị Thần tổ trong làng và thổ địa Thần tài, các anh hùng liệt sỹ.

Là ngôi chùa gắn liền với sự tích Phật giáng sinh và liệt Thánh (nội đạo). Vì vậy lễ Phật hàng năm có rất nhiều ngày khánh lễ.

1. Lễ Triều dạ đêm giao thừa và 3 ngày tết Nguyên đán.

2. Lễ Hội làng ngày 14 và 15 tháng Giêng. Rước Linh vị ở các Nghè thần về chùa. Rước cỗ cụ Chỉ.

3. Lễ huý kỵ Phật Tổ ngày 28/1, rước cỗ cụ Thủ Chỉ trong làng.

4. Ngày 20/5, ngày 8/7 và ngày 23/11 hàng năm làng tổ chức lễ huý kỵ các vị Liệt Thánh.

5. Ngày 5/5 và 15/7 và 8/4 tổ chức lễ Phật và cùng chúng sinh cô hồn.

 

 

Bình Luận


Tin mới chia sẽ